Home » TẠP BÚT
“Mã độc báo thù” là tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Văn Học, vừa được NXB Công an nhân dân phát hành. Đây là một trong vài tiểu thuyết đầu tiên viết về đề tài tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ nói về tội phạm, mà còn xoáy sâu về những tổn thương của con người trong thời đại số.
1.
Long - nhân vật chính sinh ra trong đại gia đình họ Trương, buôn bán bất động sản, giàu có và nhiều mối quan hệ xã hội, quan hệ với giới quan chức. Từ bé, gã đã được ngậm thìa vàng và kỳ vọng “làm rạng danh dòng tộc”, lớn lên trong một môi trường hãnh tiến, khiến gã thiếu sự rèn luyện cần thiết, cũng như tình yêu gia đình để trở thành một người trưởng thành đúng nghĩa. Gã lớn lên cô độc, với những tổn thương sâu kín mà ngay cả bố mẹ cũng không nhìn thấy. Sau đó, gã bỏ dở Trường đại học Bách khoa để đuổi theo ước mơ làm bá chủ công nghệ, trở thành một hacker giỏi.
Khi Long bị lôi kéo vào con đường tạo mã độc, điều hấp dẫn gã không chỉ là tiền, mà còn là cảm giác được công nhận, được tôn sùng, được “nói chuyện” với thế giới công nghệ. Sự thiếu thốn tình yêu gia đình khiến gã tìm tới sự công nhận trong ảo giác quyền lực. Với gã, đó cũng là cách để làm bố mẹ đau.
Trong khi ấy, Đại tá Nguyễn Trí, người nhận nhiệm vụ đánh án công nghệ cao, đang điều tra đường dây lừa đảo tinh vi do Bùi Văn Tuệ, Bùi Ẩn và các đối tượng trong/ngoài nước tổ chức. Chúng là các hacker siêu sao, đại diện cho bóng tối, tổ chức đường dây mua bán thiết bị, công nghệ, rao bán các phần mềm độc hại giúp chiếm quyền kiểm soát thiết bị, tấn công ngân hàng, trộm cắp tài sản. Long đã bước chân vào cuộc chơi này. Gã bị cuốn vào lời dụ dỗ của Bùi Văn Tuệ và cả sự thách thức từ tài khoản bí ẩn mang tên “Cứng Đầu”, mua phần mềm từ Emvolo. Đây là phần mềm do các hacker tạo ra, rồi được tung hô là có thể giúp kẻ sở hữu kiếm được rất nhiều tiền.
Nhưng bước ngoặt xảy ra là tình huống Long gặp Chanh, một cô gái quê, có số phận khổ hạnh, làm phục vụ tại một quán ăn. Một lần Chanh bị nhóm khách say sàm sỡ, Long đã bênh vực. Mối nhân duyên đó đã mở ra cho hai người một cơ hội, để hiểu và thông cảm cho nhau. Chanh đã trở thành điểm tựa tinh thần cho Long. Câu chuyện trở nên bất ngờ, khi trước đó, Chanh được vợ chồng Đại tá Trí cưu mang, và sau đó, cô trở thành “tay trong” của Đại tá Trí, để lực lượng chức năng có thể kết nối, đánh án. Chính cô cũng là người đã giúp Long tỉnh thức, để gã trở thành cánh tay của lực lượng công an, góp phần đánh án. Những cuộc đấu trí giữa lực lượng chức năng, Long, và đường dây của Bùi Văn Tuệ được tác giả viết khá kỳ công, tỉ mỉ, tâm lý khá sắc nét, tạo nên sự hấp dẫn của tiểu thuyết.
Ở cao trào truyện, khi Long hoàn thiện phần mềm, Bùi Văn Tuệ ép chuyển tiền lần cuối. Long biết mình bị lừa, bị sụp đổ tinh thần. Chanh bất lực chứng kiến người mình thương trượt dài. Gia đình Long cũng run rẩy cầu cứu khắp nơi để giúp con khỏi vòng lao lý. Song, chính lúc các đối tượng “bay” đến tận cùng ảo vọng, lực lượng công an khép dần vòng điều tra. Những giao dịch, dấu vết, liên hệ giữa các đối tượng được khôi phục. Đại tá Trí và đồng đội triển khai phương án chặn đứng “chuỗi lây nhiễm” trước khi nó trở thành hiểm họa xã hội. Chanh hoàn thành nhiệm vụ nội ứng trong lặng lẽ. Vụ án từng bước hé mở: bộ mặt thật của Tuệ, Bùi Ẩn, đường dây Emvolo, sự can dự của Cứng Đầu cùng những thế lực nước ngoài…đã bị đưa ra ánh sáng.
2.
Dựa vào chất liệu sống, nhà văn Nguyễn Văn Học đã khai thác tốt tâm lý của loại tội phạm phi truyền thống, những hacker mũ đen ẩn danh, thao túng hệ thống ngân hàng, tấn công doanh nghiệp, đánh cắp thông tin cá nhân và điều khiển thiết bị từ xa. Nhân vật phản diện chính, Bùi Văn Tuệ chỉ cần một cuộc gọi đã có thể phát tán virus qua âm thanh; chỉ cần gửi tin nhắn mã hóa là có thể chiếm quyền điều khiển điện thoại thông minh; một mã độc là có thể khóa toàn bộ dữ liệu của cả doanh nghiệp.
Những thủ đoạn đó vừa là sự tưởng tượng, vừa dựa trên các yếu tố hoàn toàn có thật, đang diễn ra hằng ngày trong đời sống. Điều đáng nói, tiểu thuyết “Mã độc báo thù” cho thấy cách người dùng bị thao túng tâm lý, bị đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách không thể ngờ. Chỉ một chút mất cảnh giác, tiền trong tài khoản bốc hơi; chỉ một cú click chuột, dữ liệu riêng tư bị rò rỉ; chỉ một cuộc gọi lỡ nhận... Tác phẩm chỉ ra: Khi phụ thuộc vào công nghệ, con người trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Và khi công nghệ càng phát triển, con người càng phải đối mặt với loại tội phạm lừa đảo tinh vi.
Có một điều mà nhà văn đã nhấn mạnh, bi kịch không chỉ nằm ở những cú lừa ngoạn mục, hay chuỗi tấn công mạng phức tạp, mà nằm trong chính những gia đình tưởng chừng đang rất giàu có, yên ổn. Trương Đại Long là nạn nhân của chính sự thiếu quan tâm từ gia đình. Cha mẹ giàu có, bận rộn, thiếu quan tâm; bỏ mặc con cái trong thế giới công nghệ mà sau đó, người lớn có muốn bù đắp, cứu vãn cũng không thể làm được.
Một nét đặc biệt nữa của “Mã độc báo thù” là cách tác giả miêu tả cuộc chiến giữa lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ và những kẻ phạm tội. Đó không phải là cuộc truy đuổi ngoài đường phố, những con hẻm, hay nơi rừng thiêng nước độc, mà là cuộc rượt đuổi trên thế giới ảo, với nào mã nguồn, địa chỉ IP, các thuật toán mã hóa, các loại virus ẩn mình, các mã độc. Lực lượng chuyên án phải truy vết từng bit thông tin, dựng lại lộ trình tấn công, phân tích vi mã độc, phát hiện trạm BTS giả, can thiệp hệ thống doanh nghiệp bị xâm nhập…
Với tiểu thuyết “Mã độc báo thù”, nhà văn Nguyễn Văn Học đã cất lên lời cảnh tỉnh về sự mong manh giữa thiện và ác trong kỷ nguyên công nghệ số. Tác giả cũng ca ngợi hành trình kiếm tìm sự bình yên trong một thế giới luôn bất ổn, con người cần có lòng tin, niềm tin, và phải biết phụng sự công lý, những điều tốt đẹp để bồi đắp cho một xã hội bình yên.
H.N
“Cái chết của vua câm” (NXB Văn học) - tập truyện mới của Nguyễn Văn Học vừa mới được xuất bản đầu năm 2025 gồm 15 truyện ngắn. Tuy vẫn là những đề tài quen thuộc: con người với những mối quan hệ trong xã hội, với những giá trị đạo đức, những văn hóa truyền thống, cái được mất ở thời đại mới. Nhưng trong tập truyện ngắn này, nhà văn đã đi sâu và lật giở từng trang nhân vật ở nhiều khía cạnh để dẫn người đọc tham gia vào một vở kịch đời lớn. Qua đó, người đọc nhận ra vở kịch đời ấy không chỉ trên trang giấy, mà còn ở đâu đó xung quanh mỗi chúng ta, ở những người chúng ta gặp gỡ hằng ngày.
1.
Cuộc đời con người ai cũng trải qua đủ hỉ nộ ái ố, không ai biết trước được ngày mai sẽ ra sao cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Đó là điều tất yếu của quy luật cuộc sống. Mỗi con người lại có mối tương quan xã hội khác nhau do môi trường sống, do tính cách, sự giáo dục, cách tiếp thu và giá trị đạo đức. Khi tất cả cùng bước ra xã hội, đó sẽ là muôn vàn lớp lớp khuôn mặt khác nhau cùng trôi theo quỹ đạo thời gian. Trong tập truyện ngắn “Cái chết của vua câm”, tác giả đưa bạn đọc đến với rất nhiều cảnh huống để suy ngẫm. Cùng một xóm làng nhưng có người gần gũi thân thiện, yêu cây cối chim chóc và coi chúng như bạn, như gia đình nhà Diệp Vân, nhưng lại có những người chỉ biết bắt nạt kẻ yếu thế, chỉ nghĩ đến tiền, bất chấp tính mạng người khác như bọn cò tặc, lũ trẻ mới lớn. Cùng là những người thầy làm nghề giáo, có người hết lòng vì nghề, luôn giữ mình, sống đúng lương tâm như thầy Hòa, thầy Huy. Nhưng vẫn có những người vì lợi ích của mình mà sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác như thầy Đồi. Thậm chí là cùng một gia đình, là anh em máu mủ ruột rà mà còn người tốt người xấu: dù rất nhiều người con thì chỉ có mỗi cô gái út Trăm là tốt tính, hiền lành. Hay cha mẹ thì hiền lành mà con cái thì ngang bướng, ngỗ nghịch, khó dạy bảo như cha con ông Công, cha con ông Chiến cùng rất nhiều gia đình khác. Cùng là con người sao lại có sự khác nhau nhiều như thế? Do số phận hay do người ta chẳng làm chủ được mình?
Câu hỏi đặt ra là “miếng ăn với ai quan trọng hơn?” khi ai ai cũng đi làm chỉ để phục vụ nhu cầu bản thân mình không ai giống ai. Có những người chỉ bán hàng nước kiếm từng đồng lẻ qua ngày như ông Khởi, có người đầu tắt mặt tối với ruộng vườn như vợ chồng Đạm. Họ vất vả thật sự vì phải chắt chiu từng đồng nhưng họ vẫn sống. Còn có những người công việc tốt, lương bổng đủ đầy nhưng sao vẫn lao vào kiếm những đồng tiền như mấy ông sếp của Phong trong truyện “Xe bảy chỗ ngồi”, những người cùng cơ quan ông Động trong “Chổi khóc”, hay Dũng “rồ”, lão Thật, thằng Phước trong “Giọng chim”, hay tên buôn đồ cổ lật lọng trong “Máu chiêng”. Nhưng nhiêu tiền rồi có được an yên không lại là một điều khác.
Thực ra, không ai bảo nghèo là sướng, hay chịu mãi cảnh nghèo. Như vợ chồng Đạm đầu tắt mặt tối với bùn đất, chỉ mong mỗi ngày tốt hơn để lo cho con cái bằng bạn bằng bè. Ngược lại người giàu mà không biết cân bằng cuộc sống cũng chẳng được bình an. Vợ chồng Sáng giàu thật nhưng lại thiếu mất sợi dây nối kết tình cảm gia đình dẫn đến con cái lâm vào bệnh tật. Đến khi nhận ra đồng tiền không phải là tất cả, con cái và gia đình mới là quan trọng nhất thì gia đình Sáng mới được cứu giúp.
Con người phải có khát vọng vươn lên. Và thực tế cuộc sống là vô vàn tấm gương về sự nỗ lực vượt qua nghịch cảnh để đến thành công. Diệp Vân trong truyện “Bay lên từ nước” là cô bé có trái tim trong sáng, thánh thiện. Cô yêu thương con người, cây cỏ và muôn thú, cô coi mọi thứ xung quanh mình đều đáng được trân trọng. Nhưng cô là người yếu đuối, và từ bờ vai mọc ra đôi cánh. Bỏ qua mọi sợ hãi, ngăn cản, cô đã không ngừng cố gắng để thực hiện ước mơ của mình. Tuy cô không giữ được vườn cò của bà ngoại, nhưng cô đã bay lên bầu trời dù phía trước còn muôn vàn hiểm nguy.
2.
Tiền và quyền lực chính là đôi cánh. Đó là cách đưa con người ta lên cao nhanh nhất và xa nhất. Đó là lời của nhân vật “Ta” trong “Bay lên từ nước”. Khi có tiền, có quyền, mọi thứ xung quanh đều trở thành nô lệ phục tùng mình. Và người khi đã ở trên cao thì không quen với việc hạ mình xuống mặt đất. Một thực tế là: “Nhưng tim ta, kể từ khi trở nên giàu có đã vô cảm với thời cuộc”. Con người ta khi còn thấp bé, luôn ước mơ một ngày mình to lớn mình sẽ làm những điều vĩ đại, mình sẽ không giống họ. Nhưng khi đã quen với quyền uy, sung sướng nguời ta cũng quên luôn những lời hứa cao cả mà họ từng quyết tâm sẽ thực hiện. Với truyện ngắn này, tác giả rất chắc tay khi diễn tả nội tâm nhân vật của người có quyền: “Ta phải nghĩ lại về chuyện đáp xuống. Cô gái bé bỏng kia đã bay được khi bị dồn tới đường cùng”; “Ta đã sai khi ước muốn đứng ở độ cao này, càng sai khi nghĩ rằng cô bé mãi chỉ ở mặt đất”. Hình ảnh cô gái bé nhỏ Diệp Vân sau bao dồn ép, áp bức đã vùng vẫy đôi cánh bay lên, và có thể sà xuống để chống lại bọn cò tặc như một sự nhắc nhở cho cho ai còn đang ham hố.
Đời là một vở kịch và ai của là một nhân vật trong vở kịch đời ấy, có điều ta chọn đóng vai nào mà thôi. Trong truyện “Cái chết của vua câm”, ông Nghệ chọn vai nói ra sự thật nên mãi cứ đứng một chỗ, cuộc sống đạm bạc. Còn ông Hạnh chọn vai “im lặng ăn tiền”, giấu mọi bí mật để đổi lấy cuộc sống tốt cho mình. Đây là một câu điển hình cho cá tính của Hạnh: “Tôi đã ngộ ra, ở đời mình phải tồn tại, bụng phải no đã thì mới làm được những điều lớn lao. Nên tôi đã thành kẻ bán cái sự im lặng”. Nhưng cái chết của ông Hạnh với nhiều nghi vấn cùng những bí mật ông chôn giấu được tìm ra liệu đã từng đem cho ông sự bình yên hay sợ hãi. Ông chết rồi, liệu gia đình có thể được yên ổn?
Xã hội này vẫn đầy rẫy những thị phi, người này nói xấu người kia, ở đâu cũng đầy mùi ganh ghét, đố kị, đểu giả. Nhưng nếu cứ phó mặc nó chảy trôi, sống kiểu “lối sống tam tật” là một sự thiếu trách nhiệm, nó làm ta nhụt hết ý chí, nhiệt huyết, cống hiến như Khôi trong truyện “Người vừa đi vừa ngủ gật”. Hay ông Mực trong “Thuốc giảm đau”, mọi biến cố ập đến với ông từ gia đình cho tới công việc, thậm chí là sức khỏe cũng chỉ vì sự im lặng, dĩ hòa vi quý, để chẳng ai phải mất lòng. Để rồi thành người bạc nhược trước cái sai, sự bất lương, tự thấy mình thua và thay đổi theo lối sống khôn khéo ấy. Luôn luôn trong tâm thế thức tỉnh, không ngủ gật trong cuộc đời,
Trong tập truyện, Nguyễn Văn Học dụng công xây dựng những nhân vật, mà ở họ, cho thấy sự tha hóa về đạo đức con người tăng nhanh như sức mạnh của đồng tiền. Nó len lỏi vào trong mọi ngóc ngách, gia đình, từ thành thị cho đến vùng núi sâu xa. Những đứa trẻ bị bỏ rơi ở hàng nước ông Khởi và sự đòi lại con một cách bạc bẽo không tình người, con gái gạ gẫm bố dượng ngủ với mình, con cái trộm đồ của bố mẹ mang đi bán hay mỗi lần bị mắng lại dọa chặt ngón tay, hay chuyện ngoại tình, bồ bịch… Nhà văn có ý cho rằng, tất cả nó đều đang phơi bày ra trước mắt chúng ta, nếu chúng ta không thức tỉnh mà biết điểm dừng, không biết rõ giới hạn của mình sẽ phải gánh nhiều hệ lụy. Giống như Nhu, Thạc, Mỹ, bố dượng Nhu trong “Mặt người đang trôi”, với một kết cục quá rõ ràng. Vì không nghiêm khắc với bản thân mà gia đình Nhu tan nát. Và Thạc với Mỹ- em gái vợ Thạc cũng suýt chút nữa làm tan nát một gia đình.
Tác giả cũng đặt ra một vấn đề, là liệu con người ngày nay còn niềm tin tuyệt đối vào thần linh? Khi mà người ta đi lễ, đi chùa không còn thấy sự thành kính nữa mà là sự bỗ bã, thô tục, nói đủ chuyện trên trời dưới đất: thời sự, chính trị, cúng bái, giải hạn, ngoại tình, gái gú. Có chăng người ta chỉ đi vì thừa còn hơn thiếu hoặc kiểu nhỡ đâu lại được, chứ họ không vì đức tin mà xa tránh tội lỗi nữa. Họ làm đủ tội lỗi và đi đền chùa chỉ mục đích khác. “Ở cuộc đời này, sân hận nhiều lắm. Có khi đi lễ nhiều nhưng chúng ta lại tin đồng tiền hơn”- lời của viện phó Lục trong “Xe bảy chỗ ngồi” dẫn đến nguồn cơn xung đột với viện trưởng như một sự thật hiển nhiên đang tồn tại.
3.
Có thể thấy Nguyễn Văn Học là một người luôn đề cao những giá trị đạo đức, những văn hóa truyền thống. Anh lựa chọn nói ra những góc khuất của xã hội để mọi người cùng nhìn nhận lại những giá trị đang bị mai một. Tình cảm gia đình, con cái, tình bạn bè, tình thầy trò, và cả cách đối nhân xử thế với những người là ân nhân, là kẻ thù của mình. Lối sống theo đức “mưu phạt tâm công” của ông Trương Thỏa trong “Êm như nước chảy” như một tấm gương cho mọi môn sinh và dân làng cùng nhìn vào. Giỏi mà không kiêu, bị lấn át mà không sân hận, luôn khiêm nhu, hòa hảo. Ông Thỏa dạy con mình biết chế chế cơn nóng giận để tránh xảy ra sai lầm. Chiêu thức dùng khăn lụa để đấu binh đao là một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ: làm người ta phục mà không gây hại cho họ. Sự cúi đầu của cha con ông Hồ Chín chính là chiến thắng vẻ vang nhất trong đời ông Trương Thỏa nhưng vẫn đầy tình nghĩa, không hận thù.
Trong tập truyện “Cái chết của vua câm”, ngòi bút của Nguyễn Văn Học đã sâu sắc hơn khi miêu tả con người. Anh luôn có sự so sánh, liên tưởng một đặc điểm của con người gắn vào một thứ gì đó của thiên nhiên, ngoại cảnh, không gian, ánh sáng. Người buồn thì cảnh cũng buồn “Thuốc độc… đan cái rễ nhăn nheo khô khốc trên mặt họ. Nó thấm vào ráng chiều, làm cho ráng chiều ở vùng này thường xuyên đỏ quạch, thấm luôn cả vào ánh trăng, làm trăng lờ nhờ”. “Màu đen hun hút, gió thổi rát mặt”. Màu sắc cảnh vật có chiều sâu, và tâm trạng con người cũng vậy: “Bầu trời nhức tấy, đỏ như máu, hàng ngàn cò vạc lượn lờ chầm chậm trên nóc vườn, kết vào nhau như những dải khăn tang”… Sự chảy trôi của thời gian, không gian và thiên nhiên như tâm trạng của một người càng vào đêm khuya càng nhiều nỗi niềm: “Đêm bơ phờ trôi vào khuya”; “Lòng người nặng trĩu. Con suối bên lưng làng lặng lờ, buồn thiu”; “Xuân uể oải bước qua dãy núi sương, tràn qua đồng, xuân đi, làng xóm ắng lặng”. Và khi con người vui vẻ, an hòa, cảnh vật cũng vì thế mà tự luyến theo: “Vào ngày hoa nở thắm, mây trắng bồng bềnh, cảnh vật ôn hòa… Nắng và gió vẫn nhè nhẹ. Nắng và gió không có thắng thua. Chúng tôn bồi nhau… ông Thỏa, ông Chín ngồi bên nhau cười mãn nguyện”.
Trong “Cái chết của vua câm”, Nguyễn Văn Học còn xây dựng nhiều hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ lớn: đôi cánh- tiền bạc và quyền lực; những u nhọt mọc trên người- những việc làm xấu xa; cái chổi- công cuộc quét nạn tham nhũng; những chiếc chiêng nhuốm máu- như những giá trị văn hóa cổ xưa vẫn bị tách khỏi đời sống cộng đồng; rửa tai- rửa đi những sự bẩn thỉu và nhem nhuốc; những con vẹt biết nói- thói nịnh hót ở đời… Và bằng những hình ảnh ẩn dụ ấy, tác giả đã đưa người đọc vào thế giới của sự hình dung, tưởng tượng, nhưng đầy thực tế của vở kịch đời.
Đọc “Cái chết của vua câm”, ta có thể thấy Nguyễn Văn Học dùng ngòi bút của mình để lột tả nhiều góc khuất vẫn hiển hiện từng ngày trong xã hội. Nhưng anh nói lên sự thật không phải để chúng ta chán ghét cuộc sống này. Mà từ nhìn nhận thực tế, ta sẽ làm gì để thay đổi, sống làm sao cho đúng, làm sao để lòng bình an giữa tâm bão cuộc đời. Giống như nhạc Beethoven- thứ âm nhạc cao sang ấy vẫn có thể “vang lên giữa bộn bề rác rưởi hôi thối”.
P.T
Một nhà văn đã từng nói, khi họ cầm bút viết thì từng trang viết đã thấm tình yêu. Ở tiểu thuyết “Linh điểu” (NXB Dân trí), nhà văn Nguyễn Văn Học đã xây dựng một hệ thống nhân vật mà ở họ luôn có những day trở về tình yêu với con người, thiên nhiên và quả cảm đấu tranh cho sự sống.
1.
Nhà văn Nguyễn Văn Học luôn đau đáu, trăn trở nỗi lòng với thiên nhiên và nhiều năm qua, anh đi công tác ở những nơi có vườn cò, vườn chim và thấm thía cảnh chim trời bị tàn sát, săn bẫy để làm mồi nhậu. Anh chia sẻ: “Từ những chuyến đi giúp bản thân tôi hình thành một niềm hào hứng, thậm chí say mê róng riết viết về thiên nhiên, chim chóc, sông suối, con người ở trong môi sinh ấy”.
Có lẽ từ những trải nghiệm, từ tình yêu với thiên nhiên, Nguyễn Văn Học đã cho ra đời một loạt các tác phẩm về đề tài sinh thái như “Mình ơi, anh cưới dòng sông nhé” (NXB Văn hóa -Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2018), “Nhạc cây” (NXB Hà Nội, 2019)… Và ngay đầu quý I năm 2020, tiểu thuyết “Linh điểu” ra đời chứng minh sự thành công của nhà văn khi viết về vấn đề môi sinh.
Trong diễn biến của câu truyện trong tiểu thuyết “Linh điểu” tình yêu có sức lan tỏa, tuyệt diệu. Nguyễn Văn Học xây dựng hình tượng tình yêu ở nhiều khía cạnh khác nhau, tình yêu lứa đôi, tình yêu thiên nhiên, gia đình và cả lòng nhân ái. “Ánh sáng tình yêu luôn là một giá trị vĩnh hằng giúp con người có thể vượt qua khổ đau” (trang 251).
Bạn đọc dễ dàng nhận thấy, thông điệp về tình yêu được thể hiện rõ qua cách xây dựng từng nhân vật trong tiểu thuyết. Nhân vật chính Diệp Vân, một cô gái đầy bất hạnh, một đứa con bị bỏ rơi được gia đình cô giáo Diệp Chi cưu mang, cô có hai vết sẹo lớn và bước vào thời thiếu nữ đã mọc thành cánh. Cô bị kỳ thị, xua đuổi, bị xa lánh, phải sống khác người. Bằng bút pháp huyền ảo, tác giả đã xây dựng nhân vật Diệp Vân thành người có khả năng khác thường. Cô có sự giao cảm đặc biệt với chim muông: Vào một đêm mưa to, bão lớn cô đã nghe thấy tiếng đập cửa, cứu được một con cu gáy bị mất đi một bên chân. Cô đau đớn, nhức buốt trước nỗi đau của loài chim khi chúng bị con người săn bắn, hủy diệt. Cô đặc biệt nhạy cảm với loài chim. Có thể nghe tiếng chúng khi ở xa, thấy nhức ở cánh khi chim trời bị tận diệt ngày càng nhiều. Diệp Vân mua lại những chú chim bị bắt bán ngoài chợ rồi thả chúng bay tung cánh tự do với bầu trời. Cô thường xuyên rơi vào mê man, bởi vết sẹo rất nhạy cảm với nỗi đau của loài chim, nên thường thấy hình ảnh chim cò mỏi mệt, gầy nhẳng.
Có lẽ, Diệp Vân là điển hình của những cô gái với trái tim nhân hậu. Cô sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì thiên nhiên, chim chóc. Tình yêu thiên nhiên của cô có sức lan tỏa mãnh liệt cứu rỗi được một con người tham lam, ích kỷ, một kẻ luôn săn bắt chim muông làm mồi nhậu như Hùng. Cô đã cảm hóa Hùng để anh ta nhận ra những giá trị của cuộc sống. Vân đã truyền sang anh ta sự biết ơn với bầu trời, với diệp lục. Từ đó nảy nở tình yêu lứa đôi giữa họ mà khởi nguồn là tình yêu với thiên nhiên. “Tình người có sức mạnh tẩy sạch những ái ố trong lòng kẻ tội đồ” (trang 265).
2.
Trong tiểu thuyết bà ngoại của Diệp Vân là cụ Thi, cô giáo cũng là mẹ nuôi của Diệp Vân là Diệp Chi, hay cô em gái Diệp Sương, cậu An, các thành viên của CLB Bảo vệ động vật hoang dã… đều có tình yêu thiên nhiên. Và tình yêu ấy được lan truyền từ người này sang người khác. Cụ Thi cả đời là mẹ cò vạc, chở che, bảo vệ, thậm chí đã bỏ mạng vì chống lại những họng súng ích kỷ của bọn “cò tặc”. Mất “cò mẹ” - cụ Thi, bầy cò có cách đưa tang rất đẹp và buồn: “Cánh chim dẻo như sợi khăn tang trắng mỏng manh, cả đàn kết thành những chùm hoa trắng, lơ lửng và dịu dàng trên góc trời thực hiện một nghi lễ” (trang 34). Điều đó cho thấy, chim cò cũng giống như con người, có tình yêu và lòng biết ơn.
Nhân vật Diệp Chi cũng là điển hình của mẫu người giàu lòng nhân hậu, có lòng bao dung đáng ngưỡng mộ, xuất phát từ tình yêu, lòng thương người. Diệp Chi đã nhận nuôi Diệp Vân, một đứa trẻ bị bỏ rơi, coi như con ruột. Khi mẹ đẻ Diệp Vân quay lại bằng sự thấu hiểu, Diệp Chi đã tha thứ cho Ngải, cho nhận con và qua lại chăm sóc. Diệp Chi bỏ qua cho chồng lỗi lầm của một kẻ phản bội làm bà đau khổ, bỏ qua sự hận thù nhỏ nhen cho tình nhân của chồng cũng chính là em cô để về chung sống hòa thuận trong một gia đình.
Tình yêu giúp con người và thiên nhiên trở nên gắn kết, hòa vào làm một tạo nên bức tranh nhân ái. Từ tình yêu với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông con người biết yêu cuộc sống. Nhưng tình yêu cũng có sự day dứt, đớn đau trong từng thớ bất hạnh, thể hiện rõ qua cái chết của Diệp Vân. Diệp Vân đã phải trả giá cho tình yêu của mình với thiên nhiên. Cái chết của Diệp Vân nhuốm màu kỳ ảo khi cô nỗ lực cứu Đồi Cò trong trận hỏa hoạn. Cô bị nuốt trong đám lửa nhưng không tìm thấy xác, chỉ thấy xác của những chú chim và nhiều ngày sau đó họ nghe thấy tiếng chim từ xa vọng lại, da diết. Phải chăng Diệp Vân đã đi cùng các thiên sứ “về trời”? Cái chết có phần bi thương nhưng gieo vào lòng bạn đọc niềm tin về sự hóa kiếp của con người, đồng thời thấy được khát khao, tình yêu được hòa làm một với mẹ Thiên nhiên của chính những con người đang tàn phá thiên nhiên.
Qua nhân vật Diệp Vân, con người sẽ nhận ra cần phải ứng xử như thế nào với trái đất. Bởi chính con người bởi cái đói, sự ích kỷ, thói tham lam mà tàn phá thiên nhiên và cũng chính họ đang tước đi quyền được hưởng thụ thiên nhiên của mình. Hậu quả của thuốc trừ sâu, của các điểm công nghiệp, các làng nghề tái chế ảnh hưởng đến nguồn nước, đất đai tác động tới thiên nhiên và con người: các sinh vật mất môi trường sống, sinh ra những đứa trẻ không lành lặn, bệnh tật đeo bám người dân. Cái chết của Diệp Vân tượng trưng cho loài linh điểu từ bỏ con người bởi sự tàn sát, ích kỷ. “Khi ký ức dắt tay nhau bỏ đi, con người khó cưỡng, dù con người sáng tạo ra đủ thứ tinh vi” (trang 222).
3.
Tiểu thuyết “Linh điểu”với bút pháp huyền ảo, giọng văn mềm mại nhẹ nhàng, khi thì gấp gáp, hồi hộp, từ ngữ bay bổng giàu chất thơ. Điều đáng nói, theo diễn biến câu chuyện, tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên và ngược lại, có tính lan truyền. Người này có thể cải hóa người kia bằng thái độ sống nhân hậu. Nguyễn Văn Học đã thành công khi xây dựng nhân vật Diệp Vân, là người nhạy cảm tuyệt vời, yêu thiên nhiên và con người, đã cố hóa giải mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên, để chứng tỏ một điều, con người không thể tách rời Mẹ thiên nhiên.
T.T.M
Nhà thơ Trần Ngọc Phượng
Nhà thơ Trần Ngọc Phượng chia sẻ: “Tôi nhớ hồi còn quàng khăn đỏ hay nghêu ngao bài hát "Miền Nam em dừa nhiều, miền Nam em dứa nhiều, miền Nam em xoài thơm, miền Nam em khoai bùi... Lớn lên một chút thì thích bài "Con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi"... Vào miền Nam ở chiến trường miền Đông toàn thấy rừng cao su và đất đỏ. Mãi sau ngày giải phóng mới được về sông nước miền Tây. Chính tôi cũng có dịp về tổ chức đám cưới cho bạn ở Mỹ Tho, Bến Tre và đưa cả gia đình về chơi miền sông nước Hậu Giang, Cà Mau, An Giang, Hà Tiên... nhậu rượu đế với chuột đồng, cá sặc... Ở đơn vị và cơ quan tôi có rất nhiều cô gái miền Tây của vùng châu thổ Cửu Long. Các cô duyên dáng, hiền lành chân thật và đáng yêu.
Tiếng "dạ" nơi em sao ngọt ngào
Mênh mang sông nước, sóng lao xao
Phù sa cây trái, xanh đồng lúa
Tóc xõa, vai tròn lá nghiêng chao”.
Từ những cảm xúc như thế, nên khi có dịp về miền Tây, nhà thơ Trần Ngọc Phượng đã có chùm thơ viết về vùng đất này. Đó là tình cảm của một người con phương xa luôn có khao khát, ước muốn được đặt chân đến miền Tây sông nước. Và giờ đã thành sự thật. Cảm xúc dâng trào, niềm vui vỡ òa khi tận mắt nhìn thấy cảnh vật, con người, cỏ cây, hoa lá, sông nước mênh mông... Đặc biệt nhất là tính cách, con người ở vùng đất lắm cá, nhiều tôm, bạt ngàn hoa trái này... Có lẽ chính thổ nhưỡng, không gian địa lý đã hình thành nên cốt cách, phong thái con người miền Tây phóng khoáng, hào sảng, vô tư và mến khách đến vô cùng...
Bài thơ Tận cùng Cà Mau, Trần Ngọc Phượng không giấu được những cảm xúc rất thật của mình khi được đến đất mũi Cà Mau. Bài thơ như câu chuyện kể. Câu chuyện ấy thấm đẫm cảm xúc với cách kể, cách tả, cách cảm nhận vừa cụ thể, vừa khái quát. Tất cả đã vẽ nên một Cà Mau với những đặc trưng chung nổi bật ở vùng sông nước nhưng bên cạnh đó còn mang phong vị riêng của một tỉnh cực Nam của Tổ quốc. Trần Ngọc Phượng đã tái hiện rất chân thực và sinh động một Cà Mau thu nhỏ trong bài thơ. Không chỉ nhìn trực diện về mặt địa lý mà nhà thơ còn nhìn ở góc nhìn lịch sử và văn hóa của vùng đất đặc biệt này.
Anh về để biết Cà Mau/ Mưa nhiều nắng lắm dãi dầu sức trai/ Phong sương đen sạm hai vai/ Con xuồng lướt sóng như bay giữa dòng/ Ta đi cho đến tận cùng/ Bốn phương trời biển hòa chung mũi tàu/ Chân người bám xuống bùn sâu/ Đước theo cắm rễ đất màu mọc lên/ Thau chua rửa mặn đất phèn/ Để xanh ruộng lúa để chen rừng dừa/ Câu ca mở đất năm xưa/ “Muỗi như sáo thổi...” gió đùa mây bay/ Đã đi đến cuối đất này/ Nhậu cho xả láng không say không về/ Tôm dưới đầm, cá dưới ghe/ Đờn ca vọng cổ bạn bè bốn phương/ Đêm nằm nghe sóng vỗ lưng/ Tưởng như bay bổng bước chân mở đường.
Tiếng thơ Trần Ngọc Phượng ngân lên, cái hồn của làng quê, ruộng đồng, dừa xanh, tôm cá, đờn ca, sóng vỗ... lan tỏa khắp không gian vũ trụ.
Dòng mạch thơ trữ tình của Trần Ngọc Phượng bên cạnh những bài thơ viết về đề tài người lính, chiến trường, thế sự thì anh còn có những bài thơ viết về quê hương, tình yêu thắm đượm, da diết, đậm chất trữ tình.
Từ hình ảnh hoa tím lục bình, nhà thơ lại liên tưởng đến cuộc chuyện trò giữa anh và em trong một khoảng thời gian, không gian đặc biệt. Nhà thơ đã nhập hồn thơ của mình vào chiều sâu văn hóa với bao nhiêu vấn đề về quê hương, thân phận, tình yêu. Ở đó có cả sự đợi chờ, đợi chờ trong vô vọng bởi cảnh lỡ đò - em đã sang ngang...
Em trôi đâu đấy lục bình
Để anh ngồi với một mình hoàng hôn
Tím trời tím cả dòng sông
Phương trời vô định, mênh mông bến bờ
Hoa lục bình trở thành biểu tượng cho sự vô định, nổi trôi và ở đó cũng ngầm ám chỉ thân phận của em? Lời cảm thán đó bộc lộ những sắc thái tình cảm khắc khoải, day dứt và không giấu được sự thảng thốt, lo âu. Cảnh ngộ của em - người con gái trong bài thơ cũng là cảnh ngộ chung của nhiều người con gái khác, vì thế dễ taọ nên sự đồng cảm sâu sắc ở bạn đọc.
Thân em bèo bọt vật vờ
Mười hai bến nước biết chờ đợi ai
Trời cao biển rộng sông dài
Em mang theo cả tháng ngày mộng mơ
Thế giới hình ảnh vừa quen vừa lạ, vừa có gì đó bảng lảng xa vời bởi nó chứa đựng cả hồn người trong đó.
Hỡi người con gái năm xưa/ Rưng rưng trong nắng trong mưa dập dềnh/ Em yêu hoa tím lục bình/ Mảnh mai duyên dáng như hình gái quê// Bên nhau lắc lẻo cầu tre/ Trăng soi xoã bóng, lá che vai gầy/ Anh ơi! đừng hái hoa này/ Để cho bèo dạt nước mây xuôi dòng.
Phải chăng từ lúc tuổi hoa niên đến những ngày tham gia kháng chiến ở chiến trường miền Nam và cả thời gian sau ngày đất nước hòa bình người thơ Trần Ngọc Phượng đã có “tình cảm” đặc biệt với người em gái miền Tây? Và chắc chắc sẽ có nhiều lời hẹn ước. Bởi với anh, miền Tây có điều gì đó rất thân thiết, đượm tình. Vì thế “người tình” ấy vẫn sống mãi trong ký ức của chủ thể trữ tình anh. Cũng có thể Trần Ngọc Phượng đã nhập vai nhân vật trữ tình “anh” một cách tài tình, khéo léo.
Những câu thơ nhẹ như mây khói nhưng chuyển tải và gửi gắm bao điều. Làm cho bạn đọc thổn thức, xốn xang.
Anh về trở lại bến sông/ Em đi lấy chồng vọng tiếng ầu ơ/ Hắt hiu chiều vắng con đò/ Lục bình hoa tím như vừa qua đây (Hoa tím lục bình).
Chủ thể trữ tình anh phấp phỏng đi tìm: tìm em, tìm thời gian đã mất, tình yêu đã tuột khỏi tầm tay... Anh trở lại bến sông xưa nhưng giờ đã có nhiều sự đổi thay quá.
Không gian bến sông đã được nội tâm hóa trở thành không gian tâm trạng, có khả năng biểu hiện cảm xúc của con người. Tuy có gặp trắc trở nhưng chủ thể trữ tình vẫn luôn hướng về phía trước, hướng về những điều tốt đẹp, bất tử hóa những ký ức cao đẹp của tình yêu...
Quê hương hiện hữu trong những hình ảnh: kênh rạch chằng chịt, bến sông, con đò, con nước lớn, hoa tím lục bình, cầu tre lắc lẻo, khói đồng, bìm bịp kêu, áo bà ba, tiếng hò ầu ơ, vườn cây, hoa trái...
Vẫn là những hình ảnh quen thuộc của làng quê nhưng Trần Ngọc Phượng đã thổi vào đấy cái hồn, cái tình tạo nên trong lòng bạn đọc những ấn tượng. Những địa danh anh qua, những gì anh thấy, anh cảm nhận đều rất chân thật bởi một tâm hồn trong sáng, một tính cách sôi nổi, mãnh liệt.
Anh đã đến Kinh Cùng, Cái Tắc/ Tìm em đâu giữa chằng chịt rạch kênh/ Ghe nhỏ lướt qua bao Vàm Cống/ Lục bình trôi hoa tím bồng bềnh// Bìm bịp kêu dợn từng con nước/ Từng đoàn ghe chở lúa về thôn/ Tóc em xõa, áo bà ba thon thả/ Khói đồng bay trong nắng hoàng hôn.
Hình ảnh tóc em xõa, áo bà ba thon thả tạo nên nét đẹp duyên dáng của người con gái quê. Đó chính là tín hiệu thẩm mỹ, biểu tượng cho vẻ đẹp truyền thống của người con gái miền Tây. Vẻ đẹp ấy khiến cho biết bao chàng trai thổn thức, trong đó có anh.
Nhà ai thấp thoáng trong vườn trái
Nhớ ngày đầu ta dắt tay nhau
Em hay đùa thách anh ngày cưới
Có dám qua cầu khỉ rước dâu
Quê hương miền Tây sông nước đã lắng đọng đậm sâu trong anh để rồi những câu thơ bật ra một cách tự nhiên, hồn hậu. Làng quê đã thay da đổi thịt từng ngày, đời sống người dân được dần nâng cao. Đó là niềm vui, sự hân hoan vì quê hương khởi sắc!
Bây giờ đường quê em rộng mở/ Trồng cây, nuôi cá dưới ánh đèn/ Con cháu dập dìu ra phố chợ/ Xập xình tiếng nhạc hát thâu đêm.
Về miền Tây, anh không quên ghé thăm những Dượng Năm, Dì Bảy. Điều đặc biệt là món cá nướng trui để uống rượu đế, nghe em hát sáu câu vọng cổ... Đó là những “đặc sản” của miền Tây mà khách phương xa mỗi khi đến đều phải thưởng thức.
Anh ghé qua Dượng Năm, Dì Bảy/ Cá nướng trui, ly rượu đế lai rai/ Nghe em thả vào trong dòng chảy/ Sáu câu chìm nổi nước vơi đầy (Về quê em).
Văn hóa vùng sông nước ẩn sau những câu ca trầm bổng, những giai điệu tình tứ ngọt ngào. Đó là bản sắc, điệu hồn riêng. Ở đó bên cạnh niềm vui còn hiện lên những cảnh đời lam lũ, nhọc nhằn, bươn chải trong cuộc sống mưu sinh. Vùng sông nước mênh mang ấy còn gợi nên nỗi niềm day dứt, nhớ nhung, nhất là cảnh những cô gái đi lấy chồng xa, tình cảm của đứa cháu với bà, với mẹ với cha nghe có gì đó rưng rưng.
Bướm vàng đậu trái mù u*/ Nhớ về quê ngoại, lời ru thủa nào/ Tuổi thơ sóng nước xôn xao/ Lội sông, lượm trái đuổi nhau sau vườn (Mù u quê ngoại).
Con người, sông nước miền Tây trở thành nguồn cảm hứng trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự gắn bó giữa một người thơ đa cảm với một vùng đất trù phú, nghĩa tình. Những bài thơ trữ tình man mác, mang hơi thở của cuộc sống, thoáng chút cô đơn, thoáng chút nuối tiếc, khắc khoải nhưng vẫn trong trẻo đến vô ngần./.
N.V.H
Một tác phẩm nghệ thuật ra đời dù đẻ non hay đúng ngày đủ tháng, dù còn tồn tại với sự đào thải khắc nghiệt của thời gian hay đã chết yểu... đều nghiễm nhiên có số phận riêng.
Tác phẩm “Bel Ami” của nhà văn Pháp Guy de Maupassant, dịch giả Vĩnh Minh – Đức Hiếu dịch là “Anh bạn điển trai”, dịch giả Thanh Thiên là “Người tình hào hoa”.
Là tiểu thuyết thứ hai của Maupassant, lấy bối cảnh thủ đô Paris nước Pháp vào thời ông sống - những năm cuối thế kỉ 19.
Cuốn tiểu thuyết xoay quanh Georges Duroy, một cựu binh trẻ tuổi, điển trai với chòm ria mép cong thời thượng, và hành trình leo lên quyền lực và danh vọng của anh ta, thông qua những mối tình với những người phụ nữ giàu sang, có địa vị xã hội.
*
Nếu xã hội không tạo điều kiện thì…
Đọc “Người tình hào hoa” tôi cảm nhận và học hỏi, rút kinh nghiệm ở các nhân vật Georges Duroy hào hoa, ranh mãnh và đầy thủ đoạn; nhân vật Clotilde de Marelle ngây thơ và mù quáng; và phu nhân Madeleine Forestier đáng thương, luôn cam chịu và lúc nào cũng khao khát được yêu thương.
Dưới mắt tôi, "Anh bạn điển trai" Georges Duroy chỉ là một nhà báo dùng mọi thủ đoạn để leo lên bậc thang phú quý, nhất là chuyên lợi dụng các phụ nữ nhẹ dạ. Mánh khóe là thứ hữu ích để đổi lấy tiền bạc và quyền lực. Một gương mặt điển trai đôi khi lại được việc hơn cái đầu thông minh.
Đó là một kẻ hãnh tiến, là người sinh ra đã mang bản chất lười biếng nhưng lại muốn sống cuộc sống xa hoa. Con đường tham vọng của anh ta, cũng là sự tha hóa của những nhân cách trước sự giàu có và quyền lực.
Tôi đã bị cuốn vào hành trình ấy để rồi nhận ra anh chàng điển trai của mình từ đầu truyện đã thiên biến vạn hoá, người hùng bỗng nhiên trở thành kẻ ác, cái đẹp bỗng nhiên bao chứa cái mục ruỗng và dường như chẳng có gì gọi là đẹp trong cái đô thị Paris nhầy nhụa.
Tất cả những điều ấy được Maupassant trình bày bằng một giọng phớt tỉnh, chừng như ông chẳng có ý kiến gì hết cả, “vì đời là như thế”.
Thậm chí câu chuyện khép lại bằng một đám cưới, một bước tiến, một bậc thang nữa của kẻ hào hoa kia, không ai phải trả giá, cũng chẳng có cái gọi là “báo ứng”.
Phát biểu của tôi, nếu xã hội không tạo cơ hội thì họ cũng không thể làm được những việc xấu xa đó,
*
Mở mắt cho tôi cái nhìn về nhà báo
Gói gọn trong một tác phẩm Maupasant tập trung thể hiện thái độ về những con người đang hành nghề báo chí và tờ Đời sống Pháp.
Có thể nói chân dung người làm báo hiện lên trong tác phẩm này rõ rệt hơn bao giờ hết, đông đảo mỗi người một dáng vẻ, một tính cách; nhưng họ đều chung một bản chất là sự suy đồi về đạo đức của những kẻ bất tài.
Những nhân vật mà Guy De Maupassant xây dựng không ai là không tôn trọng đồng tiền, nên cái đau mà ông muốn nói không phải là cái đau của De Vante-Tổng biên tập mà chính là cái đau của xã hội đương thời, một xã hội có những nhà báo như thế, những tổng biên tập như thế, những thượng nghị viện như thế thì thật là đau đớn cho xã hội.
Tờ Đời sống Pháp không phải là nơi để nói về đời sống của người Pháp mà đó là nơi để những con người đó kiếm tiền, ăn chơi, thoả mãn những lạc thú cho nhau.
Ở xã hội đó không có tình yêu chân thật, ở xã hội đó không có sự giúp đỡ chân thành cho nhau và cũng không có những con người thật sự xứng đáng với địa vị mà họ mang. Họ sống để lừa bịp, lợi dụng lẫn nhau.
Từ điểm nghệ thuật của Guy De Maupassant, thế giới những người làm báo thể hiện lên đông đảo. Mỗi người một dáng vẻ, một tính cách. Được ông bóc trần một cách tài tình bản chất lưu manh của những ngài nghị sĩ, những kẻ mà trên danh nghĩa là đại diện cho tiếng nói của quảng đại quần chúng ở nghị trường.
*
N.P
Tóm tắt cốt truyện
Câu chuyện bắt đầu khi Duroy, sau ba năm phục vụ quân ngũ tại Algeria và một thời gian ngắn làm một nhân viên văn phòng đường sắt, hiện đang sống cảnh thiếu thốn, tình cờ gặp lại Forestier, một đồng đội cũ, một nhà báo có vị trí trong báo giới Paris, và được giới thiệu vào làm trong tòa báo Đời Sống Pháp.
Tại đây, Duroy bắt đầu với vai trò một người đưa tin vặt, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Madeleine, vợ của Forestier, anh nhanh chóng leo lên những vị trí cao hơn.
Cùng thời gian này, Duroy được giới thiệu với những nhân vật lớn trong báo giới cũng như giới chính trị ở Paris trong phòng khách nhà Forestier, anh bắt đầu mối quan hệ với một người bạn của Madeleine, Clothide de Marelle, một thiếu phụ xinh đẹp.
Duroy cũng cố gắng tán tỉnh Madeleine nhưng cô đề nghị cả hai giữ mối quan hệ bạn bè.
Một thời gian sau, Forestier qua đời. Madeleine tái giá với Duroy và cả hai trở thành một cặp đôi mạnh mẽ trong báo giới và bắt đầu có những tác động vào giới chính trị gia ở Paris.
Duroy, lúc này đã là Ông Du Roy, thì vẫn luôn mặc cảm về vai trò của mình so với vợ và bắt đầu những cơn ghen tuông và sau này là thương hại đối với Forestier.
Một số người ở tòa báo cũng gọi anh là Forestier nhằm chế giễu khiến Du Roy tức giận và mối quan hệ giữa anh và vợ trở nên căng thẳng.
Du Roy tán tỉnh vợ của ông chủ mình, bà Walter và trở thành tình nhân đầu tiên của bà này. Rồi anh nhanh chóng chán bà ta và khó chịu khi không thể cắt đứt được bà.
Tới một lúc, Du Roy theo dõi vợ mình và rồi gọi cảnh sát tới bắt quả tang cô ta đang ngoại tình với một chính trị gia. Hoàn tất thủ tục li hôn, Du Roy kết hôn với Suzanne Walter, con gái của ông chủ và tình nhân cũ.
Lễ cưới được tổ chức linh đình với sự có mặt của nhiều nhân vật lớn, là một sự kiện đình đám tại Paris lúc bấy giờ.
Tiểu thuyết “Kim Các tự” của nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio xuất hiện trong nhà tôi năm lâu lắm, một thủa xa xưa yêu dấu, hồi đó tôi còn quá trẻ để đọc loại sách như vậy. Nhưng tháng năm trôi qua, câu chuyện ngôi chùa lịch sử bị hỏa hoạn loáng thoáng cũng đã mê hoặc tôi.
Hôm nay vào thư viện Khoa học tổng hợp thành phố tình cờ nhìn thấy “Kim Các tự” trên giá sách, tôi thấy nó gắn một chút kỷ niệm nên tìm đọc. Tôi thật sự không hiểu được nhiều chiều sâu của tác phẩm, chỉ thấy sau khi đọc xong thấy khoái một điều là truyện dường như nói thay ý nghĩ của tôi - là lời của nhà phê bình văn học chứ không phải của tôi:
“Sự hiện hữu của cái đẹp trong tâm tưởng của kẻ tôn thờ còn thiêng liêng và trường tồn hơn cả sự hiện hữu vật chất của chính nó, và đó là cách mà văn hóa được gìn giữ”. Hay là một ý khác: “Đẹp là cái gì tàn bạo, dũng mãnh để đi tới chỗ tự huỷ hoại hoặc bị hủy hoại.” Vì vậy, tác giả Mishima để cho nhân vật Mizoguchi đốt Kim Các Tự có lẽ không chỉ để giải thoát cậu ta khỏi sự cầm tù của ngôi chùa, mà còn để ấn tượng đẹp đẽ nhất về nó in sâu trong tâm trí cậu, bảo vệ cậu khỏi hình ảnh mục nát của ngôi chùa sau này. Có đúng vậy chăng? Qua câu chuyện tôi lờ mờ nhận ra điều đó.
Ngày 2.7.1950, toà Kim Các Tự chìm trong biển lửa. Di sản trân quý của Kyoto đã hoá tro tàn dưới tay phóng hỏa của một tiểu tăng của chùa. Cả nước Nhật sững sờ và thương xót trước tin ngôi chùa hơn một trăm năm tuổi đã bị thiêu rụi.
Dựa trên sự kiện phóng hỏa ở Kim Các, nhà văn Mishima Yukio đã cất công thu thập tư liệu từ khắp nơi, thậm chí vào thăm hung thủ phóng hỏa trong tù để gom nhặt chất liệu cho cuốn tiểu thuyết của mình. Năm năm sau biến cố, tiểu thuyết gắn liền với tên tuổi của nhà văn Mishima ra đời. Bối cảnh của tác phẩm là năm 1950, khi Mỹ đang chiếm đóng Nhật Bản.
Mizoguchi, trong vai người kể chuyện ngôi thứ nhất, xưng tôi – chú tiểu tại Kim các tự là một thiếu niên xấu xí, mắc tật cà lăm, sinh ra và lớn lên tại một vùng quê hẻo lánh ven biển Đông Maizuru. Cậu là con trai của tăng lữ một ngôi chùa nhỏ tại miền quê ấy. Từ nhỏ cậu đã được nghe cha kể về vẻ đẹp vô song của ngôi chùa Kinkakuji ở Kyoto. Hình ảnh ngôi chùa tưởng tượng trong tâm trí cậu lớn dần và cậu đã say mê nó lúc nào không hay. Rồi cha của Mizoguchi bị ốm và khi biết mình không qua khỏi, ông dẫn cậu lên Kyoto gặp Hòa thượng trụ trì Kim các tự vốn là bạn đồng môn thời trẻ để giới thiệu và gửi gắm con trai, hi vọng dưới sự chỉ bảo của hòa thượng, Mizoguchi sẽ trở thành một vị tu hành đắc đạo trong tương lai. Nhưng chuyến đi mơ ước tới Kim các tự không làm cậu thỏa mãn. Lần đầu tiên khi nhìn thấy ngôi chùa thực sự, Mizoguchi thấy đó chỉ là một tòa kiến trúc xấu xí tầm thường soi bóng xuống mặt ao Tokyo đầy bèo tấm. Cậu nhận thấy Kim các tự trong tâm tưởng đẹp hơn nhiều so với hiện thực.
Sau khi cha mất, cậu được hòa thượng tiếp nhận như một chú tiểu, sống trong ngôi chùa Kinkakuji, Mizoguchi dần dần cảm nhận được vẻ đẹp mãnh liệt của nó.
Ngày ngày, ngoài công việc dọn dẹp trong chùa, hầu hạ hòa thượng trụ trì, nghe giảng kinh, đôi khi là các công án Thiền, Mizoguchi đã dành rất nhiều thời gian cho việc ngắm nghía ngôi chùa. Dần dần cậu bị nó ám ảnh đến mức nhìn thấy cái gì đẹp cậu cũng so sánh với Kim các tự. Sau một thời gian, cậu được hòa thượng tin yêu và cho đi học đại học. Tại trường, với bản tính cô độc, tự ti vì sự xấu xí và tật cà lăm của bản thân, nên cuối cùng cậu cũng chỉ kết bạn được với một gã thọt, xấu chơi tên là Kashiwagi.
Những kiến giải của Kashiwagi về cuộc sống, về cái Đẹp và các công án Thiền bằng một thứ triết lí tự kỉ đã gây nhiều xáo động trong tâm hồn Mizoguchi. Trở thành một thanh niên, cậu cũng dần tập chơi bời nhưng mỗi lần gần phụ nữ, cậu không bao giờ đi đến đích được bởi những khi ấy, vẻ đẹp của Kim các tự lại hiện lên, ám ảnh.
Có thể nói, Mizoguchi đã bị cầm tù trong vẻ đẹp của Kim các tự. Trong cậu đã dần manh nha ý định đốt chùa, ý định ấy ngày càng nung nấu khi những cuộc oanh kích của quân đội Hoa Kì bắt đầu xảy ra trên bầu trời Nhật Bản, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
Và khi hàng ngày, cậu được nghe giảng kinh “Gặp Phật giết Phật!” bằng đầu óc bệnh hoạn với thứ triết lí đã bị Kashiwagi nhồi sọ của mình. Cậu lên kế hoạch thật chi tiết, chờ thời cơ thật chín muồi để thực hiện ý định. Cuối cùng ngày ấy cũng xảy ra. Nửa đêm, với một bao diêm và ba bó rơm, Mizoguchi đã bình tĩnh đốt cháy trụi một bảo vật quốc gia. Cậu cũng từ bỏ ý định cùng chết với ngôi chùa. Sau khi đốt nó, trong cậu ngập tràn một cảm giác tự do và ham sống.
Tôi có nghe đâu đó, người Nhật tin rằng, cái đẹp không tồn tại vĩnh viễn, giống như vẻ đẹp của hoa anh đào, quốc hoa của Nhật Bản, chỉ nở rực rỡ trong ba - bốn ngày rồi tàn lụi. Cũng như sự phù du của kiếp người và vẻ đẹp của những thứ liên tục đổi thay trong thế giới tự nhiên. Giống như chú tiểu Mizoguchi trong tiểu thuyết, si mê Kim Các tự đến mức muốn nó tồn tại vĩnh cửu trước nguy cơ nó sẽ bị phá huỷ bởi chiến tranh, và cả bởi thời gian. Ham muốn này đi ngược lại với quy luật hữu hạn của vạn vật. Sự ám ảnh ấy cản trở Mizoguchi sống một cuộc sống dung dị của một con người.
Tuy vậy, tiểu thuyết có kết thúc tươi sáng khi cuối cùng Mizoguchi cũng học được bài học phân biệt cái đẹp duy lý trong tâm tưởng và chọn vẻ đẹp dung dị của hiện thực. Chú tiểu Mizoguchi đã nhận ra lòng ham sống của bản thân và chú đã có thể sống tốt hơn sau khi đốt chùa.
Tôi không đủ sức để phát biểu, tôi chỉ ghi lại ý của nhà phê bình để nghiền ngẫm:
"Hành động đốt chùa trở thành biểu tượng của sự từ chối bám chấp vào cái vô thường, sự nhận biết cái giả tạm của lòng ham muốn chiếm hữu cái đẹp, và điều này cũng giống với bất cứ thứ ham muốn quá mức nào đó ở thế gian".
N.P
Tôi biết “Lolita” là một tác phẩm nặng ký, tôi đọc nó một cách rất vất vả, bỏ nửa chừng do không hứng thú. Tôi phải xem phim cùng tên để lấy cảm hứng, rồi đọc lại thấy hứng thú, rồi chán, rồi đọc lại, đến lần thứ tư mới xong. Dưới đây là mấy dòng thu hoạch từ tác phẩm này.
Đọc lần thứ nhất, tôi tưởng đây một câu chuyện nói về triệu chứng “ấu dâm” của người đàn ông trung niên có học thức, nhưng khi xem lại “Lolita”, tôi đã nghĩ chủ đề tác phẩm vượt ra khỏi rào cản về định kiến mà xã hội đặt sẵn.
Theo tôi “Lolita” là một hành trình của nhân vật Humbert đi xuyên qua thời gian, cố gắng vươn tay để chạm vào những ảo ảnh tuổi thanh xuân. Ở đó mọi tội ác đều có thể xảy ra khi có những đứa con ngang ngạnh, những người mẹ ích kỷ, những người đàn ông bị quỷ ám.
Sau khi đọc “Lolita”, bản thân tôi thầm ước, giá như xã hội có sự quan tâm đúng mực hơn về việc giáo dục giới trẻ và xây dựng nên hệ thống giáo dục kiện toàn để bảo vệ những thiên thần bé bỏng.
Tóm tắt câu chuyện
Tác phẩm được viết dưới góc nhìn của nhân vật Humbert Humbert – là một học giả, nhà thẩm mĩ và còn là một nhà văn lãng mạn, trạc 35 tuổi và đẹp trai.
Tuy sinh sống cùng vợ nhưng Humbert không hề có hứng thú tình dục với vợ mà luôn thầm tơ tưởng đến những cô gái 12, 13 tuổi để mong tìm lại thiên đường đã mất khi người yêu thời nhỏ của mình là Annabel đã chết vì bệnh hiểm nghèo. Sau đó, vợ Humbert bỏ theo một người đàn ông khác, và ông được mời sang Mĩ giảng dạy văn học trong một trường đại học ở New England. Tại đây ông đã bất đắc dĩ cưới bà chủ trọ Charlotte Haze để được gần gũi với con gái của bà ta tên là Dolores Haze (mà ông ta gọi là Lolita), cô bé chỉ mới 12 tuổi.
Hàng ngày ông đều ghi vào nhật ký những cảm xúc dạt dào với đứa con riêng của vợ đang ở tuổi dậy thì. Đến một ngày, vợ ông phát hiện ra bí mật khủng khiếp này và đã bị xe cán chết trong trạng thái hoang mang tột độ khi trên đường ra bưu điện gửi thư cho con gái ở trại hè. Mọi việc trở nên dễ dàng hơn khi mẹ của Lolita qua đời. Và tiếp đó là chuỗi ngày hai người chìm đắm trong men say đắm của tình yêu và dục vọng, rong ruổi khắp các nhà nghỉ trên những cung đường mà họ đi qua. Vào một ngày mưa, Lolita ra đi với toàn bộ số tiền ăn trộm từ Humbert rồi bỏ đi theo một người đàn ông khác với những hứa hẹn ảo tưởng về tương lai.
Sau đó rất lâu, Humbert đã gặp lại Lolita, nhưng giờ đây cô đã lập gia đình với một thanh niên nghèo, đang mang thai và cơ thể tàn tạ vì suy dinh dưỡng.
Tôi cảm thông những linh hồn tội nghiệp
Humbert – nhân vật chính của câu chuyện, một gã đàn ông trung niên, đã bảo vệ xong luận án Tiến sĩ, thường xuyên có bài viết được đăng tải trên các tờ báo khoa học. Ông ta thừa kế một khoản tiền kếch xù từ một người họ hàng ở Mỹ. Ông ta mắc chứng say mê các “Tiểu nữ thần”, chứng bệnh tội lỗi mà Humbert phải cố gắng đè nén hàng ngày, nhưng càng đè nén thì lại càng phồng rộp lên, nhức nhối. Đối với Lolita, Humbert là một chỗ dựa tinh thần trong quãng đời nổi loạn, bất cần nhất. Một người đàn ông luôn chấp nhận những trò nghịch ngợm, những cử chỉ xấu xa mà cô bày ra. Nhưng tệ thay, trái tim của cô không chấp nhận bị ràng buộc, tình yêu mà Humbert trao cho cô giống như một gánh nặng mà cô bé 12 tuổi không thể nào hiểu hết được. Cô muốn được phóng khoáng, muốn sở hữu nhiều thứ mới mẻ. Cả Lolita và Humbert đều là những linh hồn tội nghiệp. Họ sở hữu hoài bão về một tình yêu nồng cháy nhưng ý chí lại rẽ hai lối khác nhau. Một kẻ muốn ràng buộc người còn lại vào tình yêu ích kỉ, một người lại muốn tìm kiếm những phóng khoáng và tự do. Cái giá phải trả là những lầm lạc, khổ đau dằn vặt họ trong suốt quãng đời còn lại.
Tôi học được nhiều điều từ Lolita - tác phẩm nặng ký
Nặng ký ở vốn hiểu biết sâu rộng của tác giả về ngôn ngữ, về thi ca, về khoa học, về đạo lý. Và nó còn nặng ký ở tư tưởng: đây là một trong 10 tác phẩm văn học gây tranh cãi lớn nhất trên thế giới, bị cấm xuất bản ở nhiều nước. Vậy nên về nội dung của tác phẩm được bàn cãi rất nhiều về mặt đạo đức, thậm chí còn được cho là ghê tởm, bệnh hoạn. Nhưng những ý kiến đó vẫn không thể chối bỏ được sự khéo léo của tác phẩm về mặt văn chương.
Về mặt kĩ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ khéo léo, thông minh và sự tài tình, dường như ông rất thích chơi chữ. Lối chơi chữ nhiều ngôn ngữ cùng một lúc, liên tưởng đa nghĩa, nghĩa lồng trong nghĩa bịa chữ. Và trong tác phẩm vô số kiến thức văn học, triết học và sử học núp bóng ẩn dụ để miêu tả trọn vẹn tình yêu ngang trái của gã đàn ông trung niên bệnh hoạn và “tiểu nữ thần” đầy kì lạ.
Tạm kết
“Lolita” quá dung tục để đại diện cho tình yêu, đồng thời cũng quá tinh tế để đại diện cho tình dục.
Theo cái hiểu của tôi, “Lolita” là tác phẩm thể hiện sự xung đột giữa hai giá trị: đạo đức và cái đẹp. Muốn hưởng thụ cái đẹp thì phải từ bỏ đạo đức. Muốn giữ lấy đạo đức thì phải từ biệt cái đẹp.
Bé Lolita chính là biểu tượng của cái đẹp, một cái đẹp mang tính xuất chúng, “yêu tinh”, và Humbert chính là điển hình của một con người phàm trần đáng thương, đã từ bỏ đạo đức và thiêu rụi cả tâm hồn mình để hưởng thụ cái đẹp lộng lẫy nhất đời ông - Lolita.
N.P
Nói thêm
Phải nói nhờ mấy đoạn văn như dưới đây mới kích thích tôi chịu khó đọc. Trong tác phẩm có rất nhiều đoạn khoái chí như dưới đây. Xin được trích dẫn làm ví dụ:
“Tôi ngắm gương mặt nàng trên nền trời, nó rõ nét lạ lùng, như thể đang tỏa ra vầng hào quang mờ mờ của chính nó. Đôi chân nàng, đôi chân sống động đáng yêu của nàng, chỉ khép hờ, và khi bàn tay tôi định vị được cái mà nó cố tìm, một nét mơ màng và huyền bí, nửa sung sướng, nửa đau đớn, xuất hiện trên nét mặt trẻ thơ ấy”
“Nàng ngồi cao hơn tôi một chút, và hễ khi nào, trong cơn sướng khoái đơn côi, muốn được hôn tôi, đầu nàng lại cúi xuống với một động tác ngái ngủ, mềm mại, ủ rũ, gần như thiểu não, và cặp đầu gối trần của nàng quắp lấy cổ tay tôi, riết chặt rồi lại buông lơi; miệng nàng run rẩy, méo mó vì vị đắng của liều thuốc nước thần bí nào đó, hít vào đánh xuýt một cái, ghé sát mặt tôi”
“Nàng cố làm dịu nỗi đau tình, trước tiên bằng cách miết mạnh đôi môi khô cháy của mình lên môi tôi; rồi người tôi yêu ngả người ra xa, bồn chồn hất tóc, rồi lại rầu rĩ áp lại gần, hé miệng để tôi mớm vào, trong khi ấy, với sự rộng lượng sẵn lòng tặng nàng tất cả mọi thứ, trái tim, cổ họng, gan ruột, tôi trao cho nàng giữ cây vương trượng đam mê của tôi trong bàn tay vụng về của nàng”
CÁCH NHẬP COMMENT TRÊN HƯƠNG QUÊ NHÀ
Đầu tiên, nhấp chuột vào ô Nhập nhận xét của bạn rồi viết comment. Viết xong, nhấp chuột vào ô Tài khoản Google. Sau đó nhấp chuột vào Tên/URL thì sẽ hiện ra 2 ô. Ô phía trên, ghi Họ và tên của bạn. Ô phía dưới, ghi dòng chữ:huongquenha.com
Cuối cùng, nhấp chuột vào ô Tiếp tục và nhấp chuột tiếp vào ô Xuất bản là xong. (Nếu bạn đã có sẵn Tài khoản Google, thì sau khi viết comment, chỉ cần nhấp chuột vào ô Xuất bản là thành công)